TÚ QUỲ – DANH SĨ   QUẢNG NAM

0

              
Nguyễn Hàn Chung
 

                                   ‘’ Chỉ tại văn hay mà chữ dốt
                             Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy ‘’
Nhà thơ non Côi sông Vị  sau  bao lần ‘’ tấp tểnh người đi tớ cũng đi – Cũng  lều  cũng  chõng cũng đi thi‘’vẫn là anh Tú quèn ăn bám vợ đã thảng thốt ,chua chát tự trào như trên . Có một người thơ ở Quảng Nam sống cùng thời với Tú Xương ,nói chính xác hơn là lớn hơn Tú Xương hơn bốn mươi tuổi( Tú Xương sinh năm 1870) cũng nuôi mộng công hầu như ông Tú thành Nam nhưng đi thi nhiều lần cũng chỉ đỗ cái Tú tài mạt hạng và sự thất cơ lỡ vận đó chính là chất liệu tạo nên một hồn thơ trào phúng đặc biệt có một không hai của vùng đất Quảng Nam ‘’chưa mưa đà thấm ‘’nầy. Đó chính là Tú Quỳ người đã sống và sáng tác gần trọn một trăm năm xuyên qua hai thế  kỷ  (1828-1926) trải qua ba triều: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đến thập niên thứ hai của thế kỷ XX khi Thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa đẩy nhân dân ta vào cảnh cơ cực trăm đường ông mới ra đi..
Nói đến Tú Quỳ người dân Quảng Nam đều biết ông là nhà thơ có biệt tài ứng tác trào phúng, sử dụng tiếng Nôm thuần thục và biến hoá khôn lường. Ông để lại một số bài thơ  như Cồn con, Dế dũi, Nước lụt , Vịnh hát bội và một số bài văn tế khá cảm động như:  Văn tế thợ rèn, Văn tế ông Chài, Văn tế Lý trưởng…  Mỗi bài đều có bản sắc riêng vừa phê phán, mỉa mai đả kích vừa chua xót, phẫn hận trước cảnh khốn khổ của người dân gánh chịu thiên tai, lũ lụt, cộng với bon cường hào, ác bá cấu kết nhau bòn rút tận xương tuỷ của những đời khố rách.
Tuy vẫn không thể thoát ra khỏi thi pháp thơ trung đại, nhưng cách tổ chức ngôn từ đặc biệt ở thơ  ông tạo ra một trường nghĩa đa dạng hơn được lồng trong phong cách trào lộng . Tú Quỳ suốt đời sống sau luỹ tre làng không được ‘’giày dôn anh diện ô tây anh cầm-đi sớm về trưa với tình ’’ (Đi hát mất ô- Tú Xương) nên mức độ đả kích, phê phán, châm biếm không sắc sảo, cay chua bằng Tú Xương, cũng không phơi bày hết cái lố lăng, kêch cỡm, cái quái gở, lố bịch của buổi đầu thị dân tiếp xúc với văn hoá phưong tây. Tuy thế chất thô mộc, bình dân nặng về ứng tác mang dấu ấn địa phương rất được nhiều thế hệ nhân dân Quảng Nam ưa chuộng nhưng rất tiếc lại ít được phổ biến rộng ra trong cả nước. Bài Vịnh hát bội sau đây rất được truyền tụng ở Quảng Nam:
 Nhỏ mà không học, lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan
Ra rạp, ngồi trên ba đứa hiệu
Vô buồng đứng dưới mấy ông làng
Còn màu son phấn: ông kia nọ
Cởi lốt cân đai: chú điếm đàng
Tuy chẳng vinh chi nhưng cũng sướng

Đã từng trợn mắt lại phùng mang.
Hát bội là một loại hình nghệ thuật vốn được nhân dân khu Năm nóí chung và nhân dân Quảng Nam ưa chuộng, phần lớn là những tuồng tích cổ như Sơn Hậu, Ngũ hổ bình Liêu , Võ Tòng sát tẩuv.v.. Thông qua bài Vịnh hát bội Tú Quỳ sử dụng cách nói bóng gió, ám dụ , đa nghĩa kiểu hình tượng hướng tới tượng trưng để châm biếm thói háo… của bọn hào lý đương thời nhưng hàm nghĩa ám dụ không chỉ dừng lại ở đó, nó cũng đã khái quát một cái lẽ sống của hạng người cố chết cố sống mượn’’ màu son phấn’’ bất kể vinh nhục kiếm cho bằng được áo mão cân đai che cái lốt điếm đàng, cốt để được ‘’sướng’’  ‘’trợn mắt, phùng mang’’ ra oai với bàn dân thiên hạ.
Bài’’ Văn tế thợ rèn’’  viết về người và nghề thợ rèn có những câu văn phong lẫm liệt:
‘’ Mình nương dưới bệ kẻ gươm đao theo cậy sức dồi mài
 Tay dựng một lò, người cày cuốc thày nhờ ơn rèn thổi
Cân sắc tài từ lúc, lời nói như rựa chém xuống đất hẹn với trời gìa
Ra gan dạ con người, việc làm như lửa đổ trên đầu chết không kịp trối‘’
Quê ông ở làng Giáng Hoà nay là xã Đai Thắng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam suốt đời ông sống gần gũi với bà con họ mạc hiểu được nỗi  khao khát, niềm đau của những con người dân cày bị những ông hương , cụ lý ức hiếp mà chỉ biết nín chịu. Ông chia sẻ  buồn vui bất hạnh với họ:
Thảm thiết bấy mấy đời tiện tặn, chịu ăn hoài dao lụt hơn chín mười năm- Não nùng thay chút phận rủi ro , như tan mất lưỡi cày cực trăm ngàn nỗi…’’
Trong nhiều câu ông chuyển sự phản ánh mang tính chất cảm tính thành sự khái quát của tư duy hình tượng mỗi sự vật đều có thể là hình tượng trong suốt của một hàm nghĩa khác : ’’Dao oan nghiệt khéo mài chi quá bén cắt đứt tóc tơ…Mới đó mà cán đành bỏ lưỡi, phận lao đao chi xiết nỗi sầu riêng…Hôm nay hẩy lò than un giác đỏ, ngọn lửa hương thêm nóng ruột trăm chiều- Ngày mai vừa lát cuốc đắp mồ xanh, nấm đất đỏ đã chôn tình một khối’’
Bài ‘’Văn tế ông Chài’’ông sử dụng văn Nôm – Hán vô cùng biến hoá mà chính xác, nét tài hoa và sáng tạo trong cách dùng những từ láy thuần Nôm rất đáng cho đời sau học tập.
‘’ Non Đoài lúc ác vàng đã xếxình xoàng hơi cúc chén ngả nghiêng- Biển Chấn khi thỏ ngọc vừa lên,  nhắm nhía mây giăng chân lính quýnh’
Những từ láy Nôm ‘’xình xoàng, nhắm nhía, lính quýnh.v.v.’’ vốn là tiếng nói cửa miệng của người nông dân quê ông được tích hợp với các điển cố ‘’ nhợ Hàn, câu Lữ, non Đoài, biển Chấn.v.v’’ của văn phong chữ Hán như có lực hơn đã đưa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giới tâm hồn nghệ sĩ của tác giả. Một số từ thường được dân chài sử dụng cũng được ông khéo léo sắp xếp ‘’Gió bê gọng rớ…Nò vay đó xạc…sóng choạ mây giăngcái bửng cái mui v.v….Bài Văn tế ông Chài rất xúc động  đã bước vào chiếu văn chương vượt xa các bài văn tế mùi mẫn nhưng mòn sáo đương thời. Tuy nhiên trong bài văn ai nầy chất trào phúng mang dáng dấp Tú Quỳ không phải là không có. Đó chính là biệt tài của ông
‘’ Những tưởng ngày xuân hỡi rộng, ước trăm năm cõi thọ là bao
Nào hay giấc điệp đành ngang ,chỉ một phút dứt tình vội ẻ!
Hay: ‘’Sóng thần choạ mây chăng nước ngược, lưới âm dương thôi đã lủng rồi’’
Các từ ‘’ ngang, ẻ, lủng ‘’ được dùng trong ngôn ngữ văn nói trào lộng của người Quảng Nam chính hiệu được tác giả sử dụng trong một bài văn tế mà điều cốt tử là phải càng trữ tình càng bi thương càng tốt mà không bị sự phản cảm của tang gia mới thật là tài. Điều đó chứng tỏ tài nghề cao tay của  bác Tú Quỳ đất Quảng.
Tú Quý còn viết nhiều thể loại văn chương khác.  Ngoài thơ và văn tế ông còn có nhiều câu đối rất có giá trị, một số bài vè châm biếm sắc sảo, ngoài ra mảng thư tín của ông với bằng hữu trong giới văn lâm cũng rất có giá trị về mặt văn chương và sử liệu tái hiện con người và cuộc sống của một vùng quê nghèo Quảng Nam gần một trăm năm binh lửa. Tác phẩm của nhà thơ trào phúng Tú Quỳ cần phải được các nhà nghiên cứu văn học giành một vị trí thích đáng trong dòng văn học trào phúng thế kỷ XIX –XX cạnh các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tú Mỡ.
 
 
 

Tài liệu tham khảo

1- Thơ Miền Trung TK XX NXB Đà Nẵng 1995
2- Chương dân thi thoại – Phan Khôi
3- Trăm năm thơ đất Quảng NXB Hội Nhà Văn  2005
 
 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here