Tết xưa ở làng tôi

0
1116

Phùng Tấn ĐôngLang-gom-Thanh-Ha-2

Vào những ngày tháng Chạp, trời còn mưa bay và gió lạnh, tôi bỗng dưng nhớ nắng, nhớ làng dù tôi đang ở giữa làng. Phải chăng tâm trí tôi ít nhiều liên tưởng đến câu thơ Hàn Mạc Tử “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín – Hồn trí bâng khuâng sực nhớ làng…”.

Làng tôi – tên gọi bây giờ là làng gốm Thanh Hà – chứ thực ra là xóm, ấp hay có khi gọi là làng Nam Diêu. Mảnh đất Nam Diêu tí tẹo nằm ở phía Tây thị xã Hội An được bao bọc bốn bề như một ốc đảo bởi con sông Thu Bồn và con đầm Thanh Hà. Tôi còn nhớ làng có những bến sông để chở gốm đi bán miệt nguồn như bến cây Sanh, bến bà Phú, bến Đình Xuân Mỹ và bến đò đi Phú Triêm, Điện Bàn – nay là đập bến đò phục vụ cho thủy lợi Hà Châu, sông xưa giờ đã nên… đập, nối con đường từ đô thị cổ Hội An đến dinh trấn Thanh Chiêm, cũng là đường du lịch ba lô đi tắt Hội An – Nam Phước – Mỹ Sơn, tức đi dọc sông Thu Bồn. Sở dĩ tôi nhớ nhiều đến bến đò đi Phú Triêm bởi năm 2008 vừa qua người Quảng Nam kỷ niệm 100 năm ngày kháng thuế, cự sưu năm 1908, ở bến đò này có những người xin sưu bị binh lính Pháp và Nam triều giết chết ngay trên bến đò này, đoàn người biểu tình đã làm văn tế, liễn đối để tưởng niệm những người vì nước vong thân… Khi được tham gia vào việc hiến kế đặt tên đường ở Hội An, tôi đã nhắc đến sự kiện này và ccó lẽ vì thế mà đường vào làng gốm Thanh Hà từ Hùng Vương rẽ vào chợ Cá lên làng gốm mang tên đường Duy Tân – để ghi dấu phong trào Duy Tân khởi sự trên đất Quảng…

Tôi nhớ làng, nhớ đến những cái Tết xưa cách đây khoảng ba bốn chục năm vì với tôi những cái Tết ấy thực sự là Tết. Tôi còn nhớ những ngày cuối năm cũng là những ngày người Nam Diêu cho ra lò những mẻ gốm cuối cùng của năm, cũng là để có những sản phẩm cho năm mới. Tết ngày xưa nào có những mặt hàng bằng nhựa, bằng plastic hay kim khí phổ biến như ngày nay. Làng tôi cho ra lò vô số những chiếc lư, chân đèn bằng đất, những ông Táo đất, độc bình bằng đất, đĩa bày ngũ quả chân đế cao bằng đất… Những vật dụng thờ tự bằng đất này nung vừa lửa có màu đỏ hơi non như màu lòng tôm khi ra lò đã có những “nghệ nhân” của làng chực sẵn gom vào một góc riêng để bắt đầu “vung tay múa bút” sơn phết bằng bột màu, bột vôi, làm cho rực rệt sắc màu, làm cho những vật bằng đất vô tri ấy như có sức sống mới, như có linh hồn, và thực sự “vui như Tết”. Tôi còn nhớ tên những người chuyên cầm bút lông – đúng ra là bút chổi đót – chấm vào vôi trắng, bột màu xanh, đỏ, vàng, đen… vẽ trên lư, trên độc bình, trên ông Táo những hoa văn hình mây nổi “vân cẩu”, rồng, phụng… là những ông Cấn, ông Đáp, ông Kén, ông Sáu Mẻng, ông Xã Ba… Bao nhiêu năm, bao nhiêu vật đổi sao dời nhưng màu sắc những chiếc lư đất, độc bình, đĩa ngũ quả, ông Táo luôn sống động trong ký ức tuổi thơ tôi như màu cờ hội, cờ ngũ hành được treo trên cây nêu ở miếu tổ nghề Nam Diêu – miếu Thái Giám mỗi một mùa xuân đến.

Bến gốm ngày Tết cũng đông đúc như phiên chợ ngày Tết. Bến cây Sanh xôn xao “trên bến dưới thuyền”. Những người đàn ông làng tôi túm tụm bên gốc cây Sanh cổ thụ phì phèo thuốc lá cuốn, mang tre ra chẻ lạt. Dưới sông những chiếc ghe bầu chất gốm chờ ra Giêng xuất bến lên nguồn hay ra Hàn (Đà Nẵng), những chiếc ghe bán dạo chất đầy củi gộc bán cho dân làng nấu bánh tét, có ghe bán lá chuối gói bánh, rồi nếp Phù Kỳ, Phú Triêm, rồi bánh tráng mè Đại Lộc… Làm sao không nhớ những tiếng nói, những tiếng gọi í ới rủ nhau chung một con heo ăn Tết của người trong xóm. Vui nhất là cảnh chia thịt heo. Trên những chiếc rổ gánh gốm to tựa chiếc nia, người ta lót lá chuối xanh, xẻ những khoanh thịt heo thật mỏng chỉ lượng bằng mắt để chia phần cho đồng đều các bộ phận của con heo mỗi thứ một ít, chia xong người ta xâu thịt, xương, lòng bằng nuộc lạt tre để mỗi người mang một xâu về nhà chế biến ăn ba ngày Tết. Nhìn cái cảnh người ta mang thịt heo về đã thấy những chộn rộn, náo nức mong cho mau Tết đến. Những đêm cuối năm, nhà nhà đỏ lửa nấu bánh tét, nghèo hay ít người thì ba bốn nhà chung nhau thức canh để châm nước một nồi bánh tét. Bao nhiêu câu chuyện vui buồn của một năm được dịp tuôn trào kèm tiếng nói tiếng cười đầm ấm quanh nồi bánh tét. Lũ nhỏ chúng tôi được dịp đi dạo quanh làng lấy những viên đất sét khô của làng gốm ném doûa ma mấy chị hàng xóm ngồi canh bánh tét làm các chị hoảng hồn ngã dúi dụi vào nhau…

Làng tôi dường mỗi người đều mang một chút máu nghệ sĩ có tính cách truyền đời. Những ngày cuối năm, ông Hai Bổn, người hay đọc truyện Tàu thâu đêm bằng chất giọng “bài chòi” đã lo đi dựng rạp để chơi bài chòi ba ngày Tết ở miếu Bà có tán si thật rộng. Ông Bảy Xang đã phơi mẹt tò he bằng đất thật khô để sơn xanh đỏ, xong đem cho những nhà có con nít thổi tí toe vui ba ngày Tết, rồi ông đánh trống chiến tụ tập mọi người đến tập hát bội từ khoảng rằm tháng Chạp để hát trong dịp Tết. Tôi còn nhớ ông Bảy Xang thường sắm những vai mẫu (mẹ) như Đổng Mẫu – mẹ Đổng Kim Lân trong tuồng San Hậu, Lưu Mẫu – mẹ Lưu Khánh trong tuồng Ngũ Hổ Bình Liêu… Kép đỏ có ông Bề, ông Kén, kép nịnh có ông Dụng, vai lão nam có ông Huynh, vai đào có cô Ca, cô Xê…. Đúng là Tết “nghe rao trống chiến – không khiến cũng đi – nghe giục trống chầu – đâm đầu mà chạy” gần nửa thế kỷ qua, làng tôi vẫn duy trì một ban hát bội như thế, có điều những nghệ nhân xưa mỗi năm mỗi khuất núi, những người trẻ thì chưa đạt được thanh sắc như những người của một thời. Mỗi khi nghe Lưu Khánh hát “úy mẹ là mẹ ơi, mẹ nương cửa nhọc lòng triêu mộ, con trông mây nghĩ phận thần hôn” người người rưng rưng nhớ những người đã khuất như nhớ những kỷ niệm khôn nguôi về người thân nhất của mình những khi năm cùng tháng tận.

Đầm Thanh Hà ôm mảnh làng tôi – giờ đây nhiều người gọi là đầm Lai Nghi – có khoảng ruộng làng mùa xuân xanh biếc lúa non, mảnh đất chỉ bằng bàn tay nhưng là khoảng trời của cỏ non, của châu chấu, chuồn chuồn, bờ xa nước rộng trong ký ức tuổi thơ tôi. Ở đó có những bông cúc dại nở những bông vàng tí xíu trong những góc khuất bụi bờ. Vực nước bên hông miếu Nam Diêu mùa này có nhiều cá rô con, nhiều những cá rô thia mà đuôi phấp phới sắc cờ ngày hội. Làm sao tôi có thể quên cái nôn nao của bé thơ thèm áo mới, có những năm mẹ chưa may kịp thì dỗi, thì hờn chẳng chịu ăn cơm khiến mẹ chiều giáp Tết phải đạp xe xuống Phố mua cho bộ đồ may sẵn, tôi mặc quần áo mới ngủ thiếp qua đêm giao thừa đến sáng mồng Một. Làm sao quên làng tôi đầy chật tiếng nói tiếng cười, tiếng người qua lại thăm nhau, chúc nhau làm ăn phát tài phát lộc, tiếng cười của những chị lớn tuổi rủ nhau vào hội bầu cua tôm cá, tiếng các bà lớn tuổi rủ nhau chơi bài chòi, bài tới, đổ xăm hường, đêm đến ở khoảng sân rộng cạnh trường tiểu học, đèn măngxông sáng rực, các bác các cô như quên tuổi tác, nghiệp nghề, son phấn đỏ xanh hóa thân vào những câu chuyện Tàu từ xa lơ xa lắc, ca ngợi những người trung nghĩa, những anh hùng, những giai nhân, những ông vua mất ngai, những dũng sĩ mặt buồn.

Tết ở làng tôi ơi, sao mà nhớ, nhớ da diết khôn khuây dù tôi đang ở giữa làng, Tết đến, xuân này…

P.T.Đ

(nguồn T/c ĐQ)

BÌNH LUẬN

Vui lòng gửi bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn