Trang chủ Văn xuôi Tạp văn NHỮNG CON NGƯỜI “NHỎ BÉ” TRÊN ĐỈNH BẠCH MÃ

NHỮNG CON NGƯỜI “NHỎ BÉ” TRÊN ĐỈNH BẠCH MÃ

0
100

Nguyễn Thị Tịnh Thy

Tôi may mắn được làm khách mời trong đoàn hành quân lên Bạch Mã của võ đường Nghĩa Dũng vào tháng 6/2018. Đi, để một lần được chứng kiến đoàn quân áo trắng đến với ngọn núi biểu trưng của võ đường. Đi, để hiểu thêm bài học về kỹ năng sống, về tình yêu thiên nhiên, ý thức và hành động bảo vệ môi trường của võ sinh Nghĩa Dũng. Đi, để có thể tận mắt nhìn thấy từng võ sĩ tân huyền đai được sư trưởng Nguyễn Văn Dũng tự tay thắt lên chiếc đai đen mới tinh với tất cả sự trang trọng và thiêng liêng giữa đại ngàn. Đi, để được tận tai nghe tiếng thét “kia” của đội quân gần 200 người vang động cả núi rừng trong buổi sáng tinh khôi của Bạch Mã với trời xanh mây trắng nắng vàng. Đi, để chứng thực những gì mình đã từng yêu, từng nghe, từng đọc, từng viết về mối quan hệ thiêng liêng của võ đường Nghĩa Dũng với Bạch Mã như là trách nhiệm của một người hâm mộ và là một nhà khoa học – thành viên Hiệp hội Nghiên cứu liên ngành văn hóa, văn học và môi trường Asean. Và tôi nghĩ rằng, mình sẽ không viết thêm bài nào nữa khi đã có “Huyền thoại núi Bạch Mã trong văn chương của Nghĩa Dũng Karate-Do” và “Bạch Mã – ngọn núi linh hồn trong tâm thức của các võ sĩ Nghĩa Dũng Karate-Do”.
Vậy mà… bây giờ lại viết. Bởi vì mến phục và xúc động với sự “nhỏ bé” của những con người khoác kimono trên đỉnh Bạch Mã.

Image may contain: mountain, outdoor, nature and water

Nhỏ bé đầu tiên, theo đúng nghĩa đen, là võ sinh tân huyền đai thuộc phân đường Cà Mau, Nguyễn Minh Nhật. Em 11 tuổi. Ngoan ngoãn, hiền lành, nghiêm túc, chịu đựng, tự giác là ấn tượng mà em mang lại cho người tiếp xúc. Đeo ba lô đi bộ đường dốc từ dưới chân núi lên đến đỉnh núi, em tự tạo cho mình sự bình đẳng trong trách nhiệm như các anh chị lớn tuổi khác. Hồ hởi, mải miết, đi và đi. Không than vãn, không cần trợ giúp, không bỏ cuộc. Khi tới đích, em còn khỏe mạnh và tươi tỉnh hơn nhiều anh chị khác. Dựng trại, nấu nướng, dọn cơm… em đều tham gia. Ngoài cái tuổi nhỏ nhất, em không hề nhỏ bé. Nhìn em, tôi có một niềm tin rất lớn về tương lai của võ đường.
Những “nhỏ bé” tiếp theo thuộc về những bậc trưởng thượng của võ đường. “Nhỏ bé” của họ khiến tôi kinh ngạc và xúc động đến rơi nước mắt.
Các huấn luyện viên (HLV) đều nhỏ bé khi vừa hạ trại là đã lăn xả vào nhóm bếp nấu cơm cho các võ sinh. Thanh Nhàn, Quý Trân, Hùng, Lợi, Thiện, Đa, Phục, Trung, Huy… mồ hôi nhễ nhại nhưng miệng vẫn tươi cười trong vai trò bếp trưởng, chăm lo đủ đầy cho từng người một rồi mới đến lượt mình. Lúc phong đai, tôi đọc được niềm tự hào, yêu thương khi họ đón lấy đai nâu từ tay học trò vừa cởi ra; hồi hộp trong phút giây học trò được thắt lên người chiếc đai đen danh giá. Và đặc biệt, khi học trò phạm sơ suất nên bị thầy quở trách, họ còn lo sợ hơn cả học trò mình. Cái nhỏ bé đầy yêu thương và trách nhiệm của họ sao mà giống những con gà mẹ, như muốn giang cánh ra chăm sóc, che chở đàn con vừa mới đủ lông đủ cánh. Nhìn họ, tôi thầm nghĩ, các bậc cha mẹ nên yên tâm khi gửi con cho họ dạy dỗ, rèn giũa. Bởi vì, những con người biết bé lại trong mạnh mẽ, biết bảo bọc chăm lo cho người khác với tất cả tình thương và bổn phận của mình là những người rất đáng tin cậy.
Đêm trên Vọng Hải Đài, trăng sáng diệu vợi, gió lay ngàn lau. Không gian thanh sạch sau một buổi chiều được tắm gội bằng cơn mưa rừng ào ạt. Cảnh ấy, tình ấy… làm sao ngủ được. Tôi đi dạo giữa trời, đắm mình trong bầu không khí và khung cảnh thần tiên của núi rừng Bạch Mã. Một phát hiện thú vị! Trong im lặng của đêm, tôi gặp từng người từng người một cũng không ngủ như mình, họ là những huấn luyện viên. Nhàn, Bảo, Hòa và nhiều người nữa. Họ dậy để đi một vòng, quan sát, canh giấc cho các học trò của mình và khách mời; mặc dù đó không phải là nhiệm vụ bắt buộc. Theo quy định của sư trưởng, suốt đêm đều có các võ sinh thay nhau gác. Quân lệnh như sơn! Người trực phải ngồi yên, không được chuyện trò, chỉ quan sát và quan sát như những người lính trong phiên gác đêm. Chính các em đã tạo cho tôi một ấn tượng rất đẹp về tinh thần tuân thủ kỷ luật của con nhã võ.

Image may contain: one or more people, sky, twilight, outdoor and nature

Có người trực rồi, các huấn luyện viên còn thức dậy làm chi?
Đi vài mươi bước, gặp vài người, trò chuyện đôi câu, tôi tìm được câu trả lời. Và, lòng tôi dâng trào cảm xúc, ngập tràn cảm hứng muốn viết, phải viết.
HLV Bảo của phân đường Cà Mau thao thức cho hành trình ngày mai. Võ sinh bé nhỏ nhất chính là học trò của Bảo. Sợ ngày mai đường đi Ngũ Hồ khó khăn, thầy đã cho phép Bảo đưa em ấy đi theo lối khác, những em còn lại vẫn theo đoàn. Cuối cùng, Bảo quyết định: “Em sẽ xin thầy đưa các em ấy đi chung với em, thầy trò chúng em không thể tách làm hai. Đưa được các em ra Huế để tham gia hành trình này là một điều không đơn giản. Em phải đến thuyết phục từng phụ huynh, cam đoan về sự an toàn cho con em họ. Bây giờ đến đây, em không yên lòng khi để bất cứ em nào khỏi tầm mắt của mình.” Tôi gật đầu với Bảo, và nhớ lại lời dạy của sư trưởng trước lúc xuất phát về tinh thần đồng đội, về phong cách sống của các võ sĩ như hoa anh đào, nở cùng nở, rơi cùng rơi. Bảo không nhận đặc cách của thầy cho đội Cà Mau, cũng chính là đang thực hiện lời dạy hoa anh đào. Tôi nhìn Bảo, vẻ thư sinh, lời lẽ nhẹ nhàng mà cương quyết, ấm áp tình cảm và trách nhiệm của chàng thanh niên võ sư này khiến tôi cảm mến vô cùng.
Ra đến bậc tam cấp trước nhà bát giác, một trang nam nhi đang đứng ngắm núi rừng tĩnh lặng. Tôi nhẹ bước đến bên cạnh, thì ra là Hòa – HLV phân đường Gia Lai. Hòa có vẻ rắn rỏi, chắc nịch, kiệm lời, thậm chí khô khan của con nhà võ. Vậy mà chỉ trong vài ba câu trò chuyện, ấn tượng ban đầu về sự khô khan đó đã bị đánh bạt. Hòa chỉ tay về ngọn núi cao ngất trước mặt: “Khi chưa có ngôi nhà bát giác này, bao giờ lên Bạch Mã, thầy trò em cũng cắm trại trên đỉnh núi đó. Ngày trước ở đây hoang vu, đêm lạnh thấu xương, mặc ba bốn cái áo sơ mi vào vẫn run cầm cập. Bọn em mắc võng, nhiều đêm mưa lớn, võng ướt áo ướt. Ướt rồi lại khô, thức rồi thì ngủ, rồi cũng quen hết. Bây giờ nó trở thành những kỷ niệm đẹp. Đứng ở đây mà nhớ ở đó, làm sao ngủ được hả chị?!” Hèn chi, mắt Hòa cứ đăm đăm nhìn về phía ấy. Phía ấy không chỉ là không gian, nó còn là thời gian, là quá khứ. Quá khứ luôn gắn với kỷ niệm, với cố nhân, với những buồn vui không thể phôi pha… Bao nhiêu người đã từng lên đây, ở lại chốn này, bây giờ ai còn ai mất, ai theo ai bỏ nghiệp võ… Tôi đọc thấy nỗi lòng của Hòa trong câu nói đó, bèn ướm hỏi: “Chắc em lên Bạch Mã nhiều lần rồi?” “Nhiều lắm! Chuyến đi đầu tiên là năm 1996, từ đó đến nay, không thể nhớ nổi em đã bao nhiêu lần lên đây.” Tôi chắc mẩm: “Đi hoài như thế chắc là mỗi năm đi mỗi nhanh hơn.” Câu trả lời của Hòa khiến tôi bất ngờ: “Dạ không! Mỗi năm một chậm hơn!” “Vì sao vậy?” – Tôi hỏi. “Bởi vì thầy bao giờ cũng dẫn đầu đoàn quân, theo lẽ tôn ti, chúng em đi sau lưng thầy. Thầy mỗi ngày một già đi, bước chân chậm lại, cả đoàn cũng chậm lại.” Ngừng giây lát, giọng Hòa chùng xuống: “Chị! Em theo thầy lên Bạch Mã bao nhiêu năm qua, ban đầu em đi chậm hơn thầy, sau đó em bằng thầy, và bây giờ đi nhanh hơn thầy. Em không biết mình nên buồn hay nên vui.” Ôi! Câu nói của con nhà võ đây sao? Đầy suy tư, khắc khoải, yêu thương, hiếu đễ với thầy mình. Tôi phải kìm nén lắm mới giữ được cho giọng của mình không nghẹn: “Em biết không? Câu nói của em làm chị nhớ đến một chuyện. Ngày xưa, có ông Hàn Bá Du rất hiếu thảo với mẹ, mỗi khi ông lầm lỗi là mẹ lại bắt ông nằm xuống đánh thật đau. Mặc dù bị mẹ đánh đau, nhưng Hàn Bá Du không hề khóc… Rồi có một lần ông phạm lỗi, mẹ lại đánh. Mẹ đánh không đau nhưng ông cứ khóc suốt… Bà mẹ lấy làm lạ, hỏi: “Vì sao ngày trước mẹ đánh đau như thế mà con không khóc, nay mẹ đánh nhẹ mà con lại khóc?” Hàn Bá Du gạt nước mắt thưa rằng: “Ngày trước mẹ đánh đau, con không khóc vì con biết mẹ còn khoẻ mạnh. Nay mẹ đánh con không đau nhưng con khóc vì con biết mẹ đã già yếu lắm rồi, không còn sức đánh con, cũng như không còn ở trên thế gian này với con bao lâu nữa. Vì thế con mới khóc!” Hòa im lặng, mắt lại nhìn đăm đăm về phía núi như để che giấu xúc động. Tôi hỏi: “Câu chuyện này quả là hợp với tâm trạng của em phải không?” Hòa “Dạ”. Tôi nghe trong tiếng “dạ” như có nước mắt của Hàn Bá Du. Tôi hiểu. Tôn trọng cảm xúc của chàng trai này, tôi rời đi.
Trong miên man xúc động, tôi nghĩ đến hành trình sáng nay, cũng có một người đàn ông “nhỏ bé” làm chúng tôi ngạc nhiên. Đó là HLV Đạo của phân đường Đà Nẵng. Trong đội quân lần này, anh là HLV lớn tuổi nhất, là đàn anh của tất cả. Anh được thầy giao nhiệm vụ chở chúng tôi – những người khách của chuyến đi – lên tận đỉnh núi. Nghĩa là anh được ngồi xe hơi, khỏi phải đi bộ đường đèo 20 km. Thái độ của anh làm chúng tôi bất ngờ. Anh hỏi đi hỏi lại anh em trong đoàn, hỏi các vị khách, có ai biết cầm lái không, để anh được đi bộ. Trời! Đi bộ đổ mồ hôi sôi nước mắt, có gì sung sướng đâu mà thích thế? Chắc là vì đi bộ vui hơn, hoặc thỏa được đôi chân ham đi, hoặc khỏi phải phí công chạy từ Đà Nẵng ra đây, hoặc để cho anh em thấy mình không nhân cơ hội này mà lười biếng…? Quả thực, anh chỉ chở chúng tôi nửa đoạn đường, nửa còn lại là chúng tôi tự đi bộ rồi lên xe khác. Khi biết mình được giải phóng khỏi các vị khách. Anh không cần giữ kẽ, vui mừng lái thật nhanh đưa xe lên đỉnh núi, rồi nhờ HLV Nhàn chở mình bằng xe máy xuống tận chỗ đoàn quân đang lên, nhảy xuống đi bộ cùng họ cho đến điểm cuối.
Vì không đủ sức bền, những vị khách như chúng tôi phải nhờ đến xe trợ giúp. Nhưng mỗi khi đi ngang qua đoàn quân đang cố gắng vượt dốc, tôi không dám nhìn họ. Tôi thấy xấu hổ, thấy mình trở nên kệch cỡm, kém cỏi so với họ. Kém cỏi về sức lực và về nghị lực, ý chí. Họ rất trẻ, chỉ bằng tuổi con mình, họ khiến mình bỗng dưng nhỏ bé trước họ. Mình đã vậy, huống chi là anh Đạo. Đó là lý do khiến anh thích xuống xe để đi bộ. Tuy nhiên, ngồi chung xe với anh, tôi nhìn thấy lý do khác, lớn hơn, dồn nén hơn, “ghê gớm” hơn, đáng nể phục hơn. Đó là vì sư trưởng – người mà anh luôn trìu mến kính trọng gọi là “Thầy”.
Sáng hôm ấy, những người khách trong xe anh Đạo được chứng kiến một trường hợp tâm bất tại điển hình. Nghĩa là anh ngồi kề chúng tôi, trò chuyện rôm rả cùng chúng tôi đủ thứ trên trời dưới đất, ngày trước ngày nay. Nhưng lòng anh thì để bên ngoài xe, để dưới con đường – nơi có gần 200 chiến binh đai đen đang miệt mài leo dốc. Và, nơi đó có thầy của anh. Để thầy đi một mình (dẫu có cả đoàn quân bên cạnh), anh không yên lòng. Anh nhấp nha nhấp nhổm “như đứng đống lửa như ngồi đống than”, thỉnh thoảng dừng xe nhìn ngược về về cuối đường, lo lắng, ngóng đợi. Bên cạnh ghế anh ngồi luôn có vài ba miếng phô mai, kẹo bánh. Chúng tôi mời thêm món gì, anh cũng để lại một phần nhỏ ở đó. Lúc dừng xe, anh bóc kẹo, lột quýt để sẵn. Thầy vừa đi đến, anh đưa ra mời để tiếp sức cho thầy. Lên xe, anh luôn miệng xuýt xoa, lo lắng cho thầy tuổi cao sức mòn, đi bộ như thế chắc là mệt lắm. Rồi anh lo cho cả đoàn quân bị thiếu nước, bởi vì dọc đường, các con suối đều cạn khô. Lo lắng và lo lắng… Trái tim anh không ở trong xe, không ở trong lồng ngực, nó ở trên đường, trong từng bước chân của thầy anh. Anh như một đứa trẻ, anh thật bé nhỏ, như một đứa con trai đang lo cho cha mình. Tôi quan sát anh rất kỹ, và nhận ra bên trong người đàn ông vui tính, xởi lởi này đang trĩu nặng một tấm lòng. Đó là lòng trung, tận trung! Anh làm tôi nghĩ đến tính chân lý của câu nói “Nhất nhật vi sư chung thân vi phụ” (một ngày là thầy, suốt đời là cha).
Ngày thứ hai, chính người đàn ông tận trung này đã thêm một lần nữa nhỏ bé trước mọi người. Vì không kiểm soát được đội hình, anh đã để các võ sinh tập kết sai địa điểm. Thầy nổi cơn thịnh nộ. Các võ sinh phạm lỗi sợ xanh mặt. Anh cúi đầu trước ba quân: “Tại con cả! Con xin lỗi thầy!” Tất cả lặng thinh. Tất cả có thêm một bài học về tính tự chịu trách nhiệm. Hơn năm mươi tuổi đầu, đường đường là ông chủ, trong giây phút đó, trước đoàn quân im phăng phắc vì lo sợ, trước người thầy nghiêm khắc sắt đá, anh trở nên nhỏ bé vô cùng. Nhỏ bé trước kỷ luật của võ đạo. Người bạn đường của tôi nói rằng, trong giây phút ấy, bạn bỗng thấy anh không còn nhỏ bé, bởi vì sự nhận lỗi của anh đã cho các thế hệ đàn em nhận ra một nét tính cách đẹp đẽ của con nhà võ. Từ một người có lỗi, anh trở thành một tấm gương. Anh thật tuyệt vời!

Image may contain: cloud, sky, mountain, outdoor and nature

Có một người bé nhỏ nữa vượt cả ngàn cây số từ Sài Gòn ra Huế trong chuyến bay cuối ngày sau khi đã làm xong việc, rồi vượt con đường đèo hơn hai mươi cây số từ chân núi lên đến Vọng Hải Đài trong đêm, bước vào căn nhà bát giác lúc 8 giờ tối. Ánh mắt thầy chợt sáng lên, cả gian phòng rộn ràng vì sự có mặt của anh. Đó là huynh trưởng Lê Thanh Phong. Không ai nghĩ rằng người đàn ông mạnh mẽ can trường này lại nghẹn ngào rất lâu khi phát biểu: “Anh về đây vì lời hứa với thầy: “Bất cứ khi nào thầy gọi con, con sẽ có mặt!”… Anh về đây vì các em, vì những huynh đệ thân thương của Nghĩa Dũng đường… Anh về đây vì Bạch Mã – cái võ đường ảo diệu khắc sâu trong tâm khảm của anh, mà anh đã từng viết: “Có những khi nghiêng ngửa thăng trầm, tôi muốn về ngay nơi ấy để được ngâm mình trong không gian của gió núi mây ngàn, của âm vang ngàn năm thác đổ. Với tôi, đó là những phút giây cần thiết để thuốc thang lòng mình rồi lại tiếp tục đi vào đời như một cuộc hành hương”. Vậy là lời hứa với thầy, tình đồng môn và tiếng gọi tâm thức đã khiến anh trở về, dù bận rộn, gấp gáp; dù thời gian ở còn ngắn hơn thời gian di chuyển. Tôi khâm phục câu nói: “Bất cứ khi nào thầy gọi con, con sẽ có mặt!” Đó là lời hứa, lời thề của võ sĩ – lời thề mà tôi cứ tưởng đã chết theo những chàng hiệp sĩ châu Âu, những hiệp khách Trung Hoa hay các anh hùng Kshatrya của Ấn Độ từ cả mấy trăm năm trước. Bây giờ, nó vang lên ở đây, trên đỉnh núi thiêng Bạch Mã này một cách tha thiết, xốn xang. Lời thề ấy bao hàm lòng trung thành, tình thầy trò – phụ tử, tính trách nhiệm và nhiều điều tốt đẹp khác nữa trong nhân cách con người. Bằng một câu nói nghẹn ngào đó, anh Phong bé nhỏ trước thầy, nhưng anh thật cao cả trước chúng tôi.
Sáng hôm sau, khi đoàn quân nhổ trại chuẩn bị cho hành trình chinh phục Ngũ Hồ và thác Đỗ Quyên, anh lại đích thân đốc thúc, dặn dò các võ sinh dọn dẹp sạch sẽ mọi nơi. Tôi kín đáo quan sát rất lâu, thấy anh chỉ chỗ này, bảo chỗ kia, kiểm tra chỗ nọ, nhắc đi nhắc lại là không được bỏ sót rác. “Lục tìm đi, tìm cả trong cỏ, nhặt hết, không còn một mảnh dù là nhỏ nhất!” Tối qua, anh từng tâm sự với đàn em: “Cúi xuống nhặt rác, con người ta sẽ lớn thêm. Nhặt rác thể hiện ý thức, đạo đức của mình. Đồng thời, nhặt rác trên đường cũng là cách rèn luyện chúng ta biết nhặt rác ở trong đầu.” Sáng nay, chứng kiến thêm việc anh làm, tôi thật sự cảm phục.
Theo tôi, người nhỏ bé nhất trong đoàn quân Bạch Mã 2018 chính là sư trưởng Nguyễn Văn Dũng. Ông khiến tôi nghĩ đến hai mặt đối lập trong tính cách của tầng lớp Samurai: vừa là ánh thép lạnh người của một thanh bảo kiếm, vừa là cánh hoa anh đào mỏng manh.
Điều khiển cả đoàn quân: đi đứng, nấu nướng, ăn uống, hát ca, tập luyện… ; phong thái đĩnh đạc, mệnh lệnh dứt khoát, kỷ luật sắt đá, tùy cơ ứng biến, nhẫn nhịn cam chịu, nóng nảy dữ dội, giọng nói sang sảng, ông nổi lên giữa núi rừng Bạch Mã như vị tướng quân huyền thoại ngày xưa đang điều binh khiển tướng. Vậy mà, ông có rất nhiều lần chảy nước mắt, nhiều phút yếu lòng.
Đoàn quân lên đến nơi, 12 giờ trưa. Đói, khát, mệt… họ cần được nghỉ ngơi. Nhưng, thật bất ngờ so với kế hoạch, nhà bát giác đã bị một nhóm người chiếm cứ từ sáng đến chiều để tọa thiền, giảng đạo. Tôn trọng hoạt động của họ, sư trưởng phải cho các võ sinh nằm nghỉ tạm dưới chân cầu thang ngoài trời hoặc mắc võng giữa rừng. Trời đổ mưa chiều. Mưa giông của núi rừng, ào ạt, tới tấp, cuồng nộ. Sấm sét ầm ầm. Hiểm nguy! Cấp bách! Thầy hét các em nhanh vào nhà. Nhóm truyền giáo cự nự, họ không muốn người ngoài vào. Thầy trả lời, đầy kìm nén và chắc nịch: “Mạng người là quan trọng nhất!” Họ nhượng bộ, các em võ sinh vào, ngồi yên lặng trú mưa. Tôi lo lắng, hớt hãi chạy từ phòng trực của kiểm lâm lên nhà bát giác. Thầy ngồi trước cửa, hai mắt đỏ hoe, dáng buồn thăm thẳm. Ông thì thào với tôi: “Cho các em nấp vào nhanh, sét ở đây rất nguy hiểm!” Tôi trả lời dưới ấy ổn rồi, ở đây thế nào. “Cũng ổn rồi. Nếu họ không cho, thầy sẽ không nhượng bộ. Yên tâm! Em về đi!” Ông cúi xuống, mái đầu trĩu nặng. Ông như một con hổ mẹ đang thu hết móng vuốt lại, nuốt hận vào trong, cố nhẫn nhịn đến cùng nhưng cũng sẵn sàng lao vào đối phương nếu sự an nguy của các con mình bị đe dọa. Ông không muốn tôi nhìn thấy ông khóc. Tôi quay người chạy về. Tôi khóc!
Sáng hôm sau, các võ sinh đi quyền dưới chân thác Đỗ Quyên. Trong tiếng thác reo, giữa cheo leo vách núi, giữa nắng gió đại ngàn tinh khiết, đoàn võ sinh như đàn chim trắng, như đàn ngựa trắng chuyển động vừa mạnh mẽ vừa nhẹ nhàng nhịp nhàng. Đẹp không thể tả, đẹp đến ngôn từ cũng bất lực. Hạnh phúc, tự hào, mừng vui… thầy đã rơi nước mắt.
Mới đây, tôi đọc được trên facebook của thầy dòng tâm sự với ê-kíp làm phim về chuyến đi này như sau:
“…Thiên nhiên là người thầy vĩ đại, thiên nhiên mới là “nhân vật” chính; thầy trò chúng tôi chỉ là những chấm nhỏ giữa thiên nhiên bao la ấy thôi. Đặc biệt, cảnh bình minh, tôi ngồi thiền trên đỉnh Bạch Mã, cũng chỉ là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên bao la ấy thôi. Cảnh các môn sinh của tôi đi quyền dưới chân con thác Đỗ Quyên cao vời (300m) cũng chỉ là những chấm nhỏ trước con thác hùng vĩ và đẹp mê hồn ấy thôi…
…Trong phim có nhiều cảnh tôi phải trả lời phỏng vấn; cả luận giải vì sao, vì sao…, nhưng xin vui lòng đừng để tôi xuất hiện nhiều quá, đừng để tôi to quá. Tôi muốn tôi bé lại trước thiên nhiên bao la, tôi cũng muốn tôi bé lại trước đám đệ tử trẻ trung và hứa hẹn.
Vâng. Phải bé lại trước ngày mai, và phải bé lại trước thiên nhiên bao la, đấy là lễ độ tối thiểu của một con người có văn hóa.”
Đọc những dòng này, tôi không thể bình luận thêm gì nữa, chỉ muốn chiêm nghiệm về sự nhỏ bé của những cá nhân và cộng đồng Nghĩa Dũng Karate-Do.
Vâng, đó là sự nhỏ bé khiến chúng ta phải ngước nhìn, ngưỡng mộ, ao ước!

Huế, tháng 07/ 2018

Comments
Chia sẻ
Bài trướcThơ: Quỳnh Nga
Bài tiếp theoMƯA NGẬM NGÙI

BÌNH LUẬN

Vui lòng gửi bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn