MỘT LẦN PHẢI HÁT

0

NGUYỄN ĐƯC DŨNG



“…chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người tôi đã thấy tôi đã thấy…mẹ vỗ tay reo mừng xác con chị vỗ tay hoan hô hoà bình người vỗ tay….”
Đó là những câu hát!
Chẳng biết khi viết và hát lên lời kêu gào bi thiết này, nghệ sỹ đã đứng ở đâu?

Mùa thu năm 1971. Tôi từ căn cứ Hàm Rồng ngày ngày theo xe nhà binh ra học lớp 6/3 trường Trung học Công lập Plei Ku.
Đó là những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến và của một vùng chiến sự. Chết chóc, thương vong. Những tổn thất bất ngờ và cả những mất mát ngô nghê. Trời kêu ai nấy dạ.

Một chiều thứ ba. Tôi nhớ như in khi tiếng hát của quái kiệt Trần Văn Trạch vừa dứt bài xổ số kiến thiết Quốc Gia, một tiếng nổ khô giòn vang lên sau hè nhà. Anh hai tôi, 15 tuổi trúng lô an ủi. Cái kíp nổ lựu đạn M26 đã biến bàn tay trái tật nguyền co rút do một cơn bạo bịnh hồi sơ sinh của anh hai tôi thành một đoá hoa quái đản, te tua gân và nhùng nhằng những mẩu da đẫm máu.
Trên chiếc GMC chạy hết tốc độ cấp cứu. Anh vừa khóc vừa hỏi
_ Dũng ơi! Sau rồi tay có mọc lại không hả Dũng?
_ Mọc. Mọc lại khi nó lành! Anh đừng sợ!
Tôi đành dỗ dành người anh khờ khạo tội nghiệp của tôi trong nước mắt.
Tôi nói mà cắn rức vì đã nỡ lừa dối anh. Làm sao mà mọc lại được anh ơi! Tôi nguyền rủa mình. Anh còn sống là may phước rồi. Thôi! Một tay cũng được, vì đằng nào thì cánh tay kia từ trước đến giờ nó cũng chỉ để gọi là tay thôi! Nó có ích lợi gì đâu những vẹo vọ co rút vô dụng. Tôi thầm nghĩ và miên man những điều không tên gọi. Cứ mong chờ nhanh đến Quân Y Viện.

Để tiện chăm sóc anh khi ba tôi thì bận bịu của đời lính tráng. Mẹ đang mang bụng bầu vượt mặt chờ sinh. Tôi đành làm một cuộc hành quân bất đắc dĩ. Mang quần áo sách vở đến ở luôn trong Khoa Ngoại 2, Quân Y Viện Plei Ku. Khoa này chuyên về tứ chi. Những chú lính cụt tay, cụt chân, và những què cụt phong phú khác. 
Hằng ngày, tôi thay đổi lộ trình đi học. Từ QYV, tôi đón xe đi và về trên tuyến đường này. Ngang qua ngôi trường Nữ Trung học Plei Me một trời tha thướt áo dài những chiều tan lớp. Băng qua ngã ba Diệp Kính để lên ngôi trường của tôi, toạ lạc ở một ngọn đồi phía trên cùng của thị xã. Tôi đi bằng những bước chân của một thằng con trai 13 tuổi đã biết niềm đơn độc, đã cỗi già những nghĩ suy về thân phận con người.

Những lúc rỗi rải, mấy chú lính bị loại khỏi vòng chiến đấu thường tụ bạ quanh mấy tàng cây trong sân bệnh viện. Mấy chú chuyện phiếm cho qua ngày đoạn tháng, mong nguôi khuây những nhục nhằn thân phận. Tôi ngoan hiền và dễ nhìn nên nhận được sự yêu mến của hầu như tất cả con người ở đây, từ những Y Bác sỹ, nhân viên cơ số và thương bệnh binh. Gặp khi vui miệng, chúng tôi ngồi hát cho nhau nghe, những cái muỗng gõ vào nhau cầm nhịp. Như gõ vào nỗi an ủi làm người, dẫu sao trời vẫn mây xanh, gió vẫn rì rào sau vòm lá. Tiếng chim chóc vẫn vui chào từng ngày để biết rằng cuộc sống đang qua đi và mỗi người vẫn còn hít thở khí trời mỗi sớm mai thức dậy.

Một trưa, bầu trời Quân Y Viện bỗng nôn nao tiếng cánh quạt trực thăng tải thương. Từng chuyến từng chuyến hối hả đi về, chở đầy những âu lo tâm trạng. Ai cũng ra nhìn trời và nhìn ngó mông lung cho một trả lời. Tất cả những chuyến bay đều về một điểm đáp. Nhà Vĩnh biệt.

3 giờ chiều. Không ai bảo ai. Như một thôi thúc kêu đòi. Chúng tôi lũ lượt kéo lên đồi, nơi đặt căn nhà cuối cùng của những chàng trai mặt áo lính. Tiếng gào khóc thê thiết cả một góc trời như hồi còi giục quân. Đoàn quân kỳ quái dị hình, kẻ chống nạng. Người dìu người, tôi đẩy chiếc xe lăn của một chú lính còn rất trẻ và còn “rất” nửa thân người… Chú hối, mau lên em! Mau lên em! Coi thử có đơn vị của anh không?

Trước mắt chúng tôi là một khoảng sân rộng gần ngàn mét vuông. La liệt thi thể. Những bộ đồ trận mất đầu. Những gò ngực mở toang. Những gan ruột nhầy nhụa bụi đất. Máu. Ruồi và tiếng gào khóc. Rên rĩ. Nấc nghẹn!
Thân nhân tử sĩ dồn hết về một hiên sân của dãy nhà kho cạnh đó, nhường chỗ cho Trung đội Chung sự đãm nhận trọng trách của mình.
Khóc mỏi, người ta tìm dựa vào nhau bằng những an ủi sụt sùi. Đoàn quân dị hình chúng tôi im lặng. Như tưởng niệm trước mất mát không gì đền bù được của đổng đội mình. Bỗng một giọng hát vang lên
” Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại…xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về….” 
Ai đó: suỵt! Sao lại nỡ hát lúc này?
“Đúng! Hát đi! Hát cho chiến hữu của chúng ta nghe lần cuối cùng trước khi trở về cát bụi.”
Lần này là tiếng của một sỹ quan cụt chân. Ông đi nạng. Ông lách dòng người bước lên phía trước. Ông tiếp.
Bà con thân nhân ơi! Hãy nén lòng bi thương để chiến hữu, con em chúng ta nhẹ nhàng ra đi, đền nợ nước. Ai cũng phải một lần từ giã cõi trần gian khốn kiếp điêu linh này. Bà con hãy cho phép anh em còn sống chúng tôi hát lên lời tiễn biệt bạn bè mình.
Mọi người ngơ ngác, không biết phải hành xử ra sao trong tình cảnh oan nghiệt này. Sự im lặng của vài trăm con người như một câu trả lời bất đắc dĩ.
Tôi được ông sỹ quan gọi lên
_ con hát đi! Con hát thật hay như mấy lần con đã hát trước đây cho chúng ta nghe. Nhưng giờ, con chỉ hát hai bài thôi, như một lời chào vĩnh biệt yêu quý và đau đớn nhất dành cho những người đã nằm xuống kia. Như một an ủi những bậc cha mẹ, những vợ con, thân nhân đang chịu nỗi mất mát lớn lao, và cho tất cả chúng ta, hôm nay, bây giờ và chính tại nơi này. Biết đâu sẽ không còn lần để hát như vậy nữa 
Hát đi! Hát đi Dũng ơi!
Hát đi!
Hát đi Dũng!
Những tiếng réo gọi vang lên tứ phía…

Và tôi hát!
“Em hỏi anh em hỏi anh bao giờ trở lại, xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về…”
Lời hát của một thằng con trai 13 tuổi lớn lên dưới bầu trời lửa đạn. Nắng chiều đã xế về tây, trong tiếng ruồi nhặng vo ve như đàn ong vỡ tổ là giọng sụt sùi thổn thức của những bà mẹ, những người vợ, những đứa con tử sỹ, là tiếng thở dài não nuột của những người cha đã sụp lưng vì gánh nặng cuộc đời. Tiếng gõ lách cách cầm nhịp vào tay xe lăn thay cho đàn trống. Như có một mời gọi vô hình, tôi bỗng vỡ giọng ra khi vào đoạn cao trào…
“….anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả anh trở về hàng cây nghiêng ngả anh trở về có khi là một chiếc vòng hoa anh trở về bằng chiếc băng ca trên trực thăng sơn màu tang trắng em ơi…”
Tiếng gào khóc lại vang lên, hoà theo giọng hát nức nở và dàn dụa nước mắt. Tôi vẫn đứng thẳng người, nghiêm nghị hát cho đến hết bài.
Những tiếng gõ vào tay xe lăn vang lên lạch cạch thay cho tràng pháo tay của một buổi biểu diễn lạ lùng nhất trong lịch sử hát hò.
Ông sỹ quan bước tới xoa đầu tôi
Con giỏi lắm!
Ông nói qua giọng trầm đục nước mắt.
Quay người về phía sân, nơi hàng trăm tử sỹ đang nằm. Ông hô: Nghiêm!
Cả trung đội Chung Sự đứng nghiêm bắt tay chào. Phía sau, những thương binh què cụt cũng chào theo quân lệnh, ai đứng được thì đứng chào, ai không đứng được thì ngồi thẳng lưng trên xe lăn để chào. Những chú lính mất tay lại chào bằng khuôn mặt nghiêm nghị buồn mà đầy kiêu hãnh.
Tôi được lệnh hát bài thứ hai. Bài hát hay nhất, bi tráng nhất của đời lính và phù hợp nhất như thể người nhạc sỹ tài hoa kia viết ra là để riêng dành cho giây phút thiêng liêng này

“Anh không chết đâu em anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua, em có thấy đêm đêm từng linh hồn sáng trên đồi máu. Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đếm mau từng tiếng súng tiếng súng hay nhạc triêụ hồi đưa anh đi anh đi….”

Không gian câm lặng, con người hoá đá. Tư thế nghiêm chào bất động. Cả một đoàn thân nhân tử sỹ nhẹ nhàng đứng thẳng người lên. Một buổi tưởng niệm không toan tính dự định bỗng nhiên thành lập. Tôi hát như một cái máy, lạnh lùng, mất cảm giác, mở hết tim máu nhịp mạch của một cơ thể sống để hát, làm một đáp đền cho nghi thức thiêng bất chợt kia, nước mắt lăn dài rồi vón cục trên khuôn mặt tôi, một đứa trẻ con đã chai lỳ khói đạn.

“Không anh không chết đâu em
Không anh không chết đâu Anh
Không anh không chết đâu em
Không anh không chết đâu…”
Một tràng vỗ tay giòn giã nổ vang bên những xác người. Tôi đổ gục xuống và để mặc cho mình gào khóc, tôi khóc cho điều thiêng liêng không thể lý giải của hiểu biết một đứa trẻ con. Tôi khóc cho chiến cuộc này vẫn dằng dai súng đạn. Rồi ai sẽ đến nằm vào khoảng sân trống lạnh kia để làm thành một tử sỹ của niềm kiêu hãnh chết người?
Cả khoảng sân lại bùng vỡ tiếng khóc của hằng hà giai điệu cung bậc và tiết tấu. Nhưng tiếng khóc như đã khác đi. Có một ủi an yên chịu trong mỗi mất mát con người. Ai đó dìu tôi đứng dậy. Một cánh tay ôm và tiếng khóc. Vài cái vỗ vai xoa đầu và một vòng tay ôm siết ấm nóng của chú lính vẫn thường trò chuyện với tôi mỗi ngày. Có gánh nặng vô hình nào đó đã tạm thời được đặt xuống

Khoảng sân lại trở về với công việc của mình. Nghĩa tử là nghĩa tận. Một lặng lẽ lại bao trùm nhưng đã nhẹ bi thương.
Tôi đẩy chiếc xe lăn của chú lính trẻ mất nửa thân người trở về phòng khi bầu trời đêm cao nguyên đã nhấp nháy một vì sao đơn độc…

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here