MỘT BÀI THƠ TÌNH RẤT VẸN TÌNH…

0
426

Dương Diên Hồng

Vào thời khắc giao mùa, những ngày cuối năm tất bật nhưng lại rất suy tư. Nhịp sống đâu đâu dường như cũng bồi hồi, khác lạ trong cảm nhận của mỗi người. Càng đến gần giờ G, cõi lòng mở ra cùng với gió xuân mơn trớn lời yêu đương chân thành nhất của con tim dành cho tình yêu sâu đậm. Và tôi đã bắt gặp một niềm yêu thánh thiện của người luôn dành hết đam mê cho vẻ đẹp Nàng thơ qua bài:” Ngắm em chiều ba mươi” của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung:

Ta ngồi lẳng lặng ngắm em
cái môi mim mím mà buồn lạ chưa
vui như gặt lúa mất mùa
buồn như em đã từng chưa có chồng

Anh từng rờ tới gót chân
em đâu có phải thánh thần mà chay
chỉ vì hãi sợ gió bay
nên anh giấu cái sum vầy vào đêm

Ta ngồi lẳng lặng ngắm em
ai trừng ta vẫn lim dim niết bàn
tới chiều râu tóc tan hoang
muốn thu đừng rụng lá vàng được chăng !

Một thời yêu rất hung hăng
một thời không nói không rằng rất yêu .
(31/12/2017)

🕸Lời bình:

Thoạt đầu, vừa đọc bài thơ, ta cảm nhận thi sĩ rất lãng mạn đang say ngắm một chân dung người đẹp. Ngắm rồi tự tình như đang nói chuyện, giải bày nỗi lòng với nàng…
Lạ chưa, nhà thơ lại chú ý đến một nét môi bí ẩn như một người yêu nghệ thuật chú ý đến bức họa nàng Mona Lisa. ( Mona Lisa là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia.). Bức họa ấy, người ta đã tốn không biết bao bút mực để giải mã nụ cười của nàng – một nụ cười quyến rũ đầy ma lực:
Ta ngồi lẳng lặng ngắm em
cái môi mim mím mà buồn lạ chưa
vui như gặt lúa mất mùa
buồn như em đã từng chưa có chồng.”
Nàng Mona Lisa của nhà thơ rất Việt Nam. Chính cái hồn thơ Lục bát của Nguyễn Hàn Chung đã đưa vẻ đẹp môi nàng đến thật gần với “nụ hôn của chúng ta”, dung hòa vẻ đẹp cổ điển của nhân loại với vẻ đẹp bản sắc Việt để ta biết yêu thêm nét tinh tế của cuộc đời và con người khi soi mình trong ánh mắt và nụ cười nhân thế. ” Cái môi mim mím” rất chi là dễ thương trong nụ cười kín đáo của thôn nữ lại mang dáng hình của nét môi bí ẩn từ nàng Mona Lisa của nền Văn hóa Phục hưng Ý, nơi khởi đầu mạnh mẽ cho những tư tưởng Phục Hưng ở Tây Âu, rồi lan rộng ra cả thế giới với tinh thần chuẩn mực :” Đề cao trần thế và con người” đối lập với mọi giáo điều phi nhân tính của các thế lực thống trị thời bấy giờ muốn phủ nhận cái hạnh phúc thực đang tồn tại cõi trần tục.
Cái môi của nàng thơ Nguyễn Hàn Chung đã hớp hồn thi sĩ, không phải vì nó gợi dục mà nó gợi nỗi buồn. Buồn mà cười mím nên nhìn có vẻ ” vui”- cái vui thất thu sau một vụ lúa thu hoạch bị mất mùa .
Mất mùa đương nhiên là lỗ vốn, phải làm công không thì vui được sao? Nhẽ ra phải khóc. Nhưng “em” gượng cười để cho bản thân mình có thêm nghị lực mà đối mặt với thất bại và nghịch cảnh để lại bước vào vụ mùa mới. Khi người ta buồn mà vẫn phải cười còn đau hơn gấp mấy lần được khóc. Cái phi lý của biểu đạt trạng thái ở con người thường gây rối loạn cho tâm lý và sinh lý, dễ dẫn đến trầm cảm và mất cân bằng vì stress nặng…
Nhà thơ nói rất nhẹ nhàng nhưng đang đau cùng nỗi đau của những thân phận phụ nữ gánh vác cả một cơ nghiệp gia môn, gặp phải thất thu sau một năm “mùa màng kiếm cơm” tất tả xuôi ngược và cuối năm, tổng kết lại ngồi cười mím, cắn môi gặm nhấm nỗi buồn…( đang buồn mà hình dung cảnh này tôi cũng phát dở khóc dở cười luôn…). Từ ” vui” lại đặt vào ngữ cảnh “buồn” là thể hiện bút pháp nghệ thuật ” nói ngược” của ca dao Việt. Phải là người hấp thu bầu sữa thơ ca dân tộc sâu sắc, tác giả mới có thể vận dụng thi pháp dân gian nhuần nhuyễn để làm nên cái vẻ đẹp mịn màng, trơn láng và hồng hào của thơ mình khi miêu tả hiện thực vui buồn lẫn lộn. Nhìn ra cái mím chung của nụ cười lam lũ ở phụ nữ đã hay, nhà thơ còn nhìn sâu hơn sự uẩn khúc trong tâm hồn đàn bà cô đơn ” buồn như em đã từng chưa có chồng”. Nỗi buồn cô đơn hồn nhiên đến độ như là nỗi buồn thiếu nữ. Nhưng nụ cười em không phải là nụ cười chưa từng biết ” chồng con”. Chỉ là đã biết mà cũng đã xa… xa không biết bao lâu rồi nên buồn đã nén trong “cười”. Ôi chao, lại bí ẩn và có sức khêu gợi để nhà tâm lý Nguyễn Hàn Chung khái quát ánh nhìn vào câu thơ. Một buổi chiều cuối năm, tác giả ngắm cuộc đời, ngắm phận người và ngắm cả thi phẩm của mình, một nỗi buồn cô đơn theo gót nỗi buồn của thi hào Nguyễn Du lúc sáng tác ” độc Tiểu Thanh ký”. Trong thơ, cụ Tiên Điền muốn khóc cho mình để bù trừ sau này có mất đi, nhỡ không ai khóc thì cũng không tủi buồn.
Còn chiều cuối năm,nhìn lại, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, cũng đang cười mím với chính mình khi ngắm thân phận những bài thơ mà ông đã viết, đã thể nghiệm, đôi khi trong cái vụ mùa ” Thơ tình mới”, nó bị thất thu tình cảm của các độc giả không đồng cảm. Thơ mới có lúc cũng mang phận số cô đơn của người đàn bà có chồng mà như chưa từng có…

Khổ thơ thứ nhất đã là hoang tưởng khi ngắm “em” siêu thực trong mối tương đồng với việc ngắm tranh cổ điển, thì khổ thứ hai càng lún vào mơ mộng hơn :
“Anh từng rờ tới gót chân
em đâu có phải thánh thần mà chay
chỉ vì hãi sợ gió bay
nên anh giấu cái sum vầy vào đêm”
Nếu là yêu thực sự với một nàng thì ai dại gì rờ gót chân, cho dù nàng ấy có gót đỏ như son hay gót sen thoăn thoắt dấu hài ? Mà có thực sự ” rờ” gót chân đi nữa thì chắc chắn là rờ khi nàng đang bay, níu nàng được chút xíu cảm giác da thịt. Đúng là ” rờ” trong mơ thôi…
Thi sĩ yêu nàng Thơ đến thế, giao hòa và cảm nhận nàng cũng yêu mình. Tình yêu ngoài lề khiến chàng thi sĩ cũng sợ ” tai bay vạ gió” nên đành giấu tình vào đêm. Đoạn thơ này hay ở chỗ là có thể được hiểu nhiều nghĩa. Không biết có nghĩa cụ thể không? Nhưng chắc chắn có một nghĩa hàm ẩn về lý luận thơ ca. Khổ đầu, độc giả cũng đã thừa nhận ” em” chính là mối tình của thi nhân với thơ ca – nàng thơ tình, là những tuyệt tác thi phẩm mà nhà thơ đã gửi hết cảm nhận về cuộc đời khi tâm sự với em. Vậy thì mạch logic càng cho thấy, ở khổ hai, giấc mơ chạm đến gót chân của em là một niềm mơ khiêm tốn, chạm được gót chân của nữ thần thi ca mà hằng đêm nhà thơ vẫn ấp ủ… ( với ai thì tôi không dám bình ý này nhưng với Hàn Chung thì tôi cam đoan: Thi ca luôn là giấc mơ đẹp trong anh)
Khổ thứ ba là tiếp nối ý của khổ thứ hai:
” Ta ngồi lẳng lặng ngắm em
ai trừng ta vẫn lim dim niết bàn
tới chiều râu tóc tan hoang
muốn thu đừng rụng lá vàng được chăng !
Cái khát vọng thi ca đã hiện hữu rõ nét lắm rồi. Nhà thơ bấy giờ đã hoàn toàn hòa nhập tâm hồn với thế giới riêng đầy cảm xúc mãnh liệt và khao khát. Ý thơ và nhạc thơ vừa tĩnh vừa động. Các từ láy: “lẳng lặng”, “lim dim” ở hai câu đầu tái hiện cái dáng vẻ bên ngoài rất tĩnh khi bình yên với cõi thơ được ví là Niết bàn. Nhưng các động từ, tính từ có vai trò làm trọng âm được nhấn khi đọc ở hai câu sau như: “muốn” , “tan hoang”, “rụng”…lại cho thấy cái khát vọng ở mãi với cõi thơ, bất chấp quy luật thời gian, ước muốn tha thiết, van nài ” lá vàng” đừng rụng, cứ ở mãi trên cây đời để cái đẹp tuy héo úa vẫn sinh tồn mang thi hứng cho nhà thơ… Đó phải chăng còn là khát vọng để đời những nét đẹp của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống mà tác giả đã từng yêu, đã từng viết rất gợi cảm trong cái tuổi mùa Thu chín đẹp thâm trầm…
Chợt ngẫm về mình, nhà thơ nhớ lại mối tình với nàng thơ, thì ra những giây phút khi con người ở vào tuổi chiều, niềm yêu Thơ và yêu tất cả vẻ đẹp của cuộc đời càng thấm sâu, nó không hung hăng, bốc đồng như thời trẻ mà êm đềm trong cái lẳng lặng “giấu lửa” bên trong rất mãnh liệt mà chắc gì trẻ mà yêu nhiều như khi tuổi đã già :
“Một thời yêu rất hung hăng
một thời không nói không rằng rất yêu”.
Cái chất trùng điệp của câu chữ : ” một thời” chồng tiếp ” một thời” “yêu rất..” đảo lại ” rất yêu”, điệp từ ” không” ( 2 lần)… đã tạo điểm nhấn rất mạnh về tình cảm duy nhất, xuyên suốt và không thay đổi dù nhà thơ ở bất kỳ thời khắc nào trong cuộc đời. Cái tình cảm “một thời” ở quá khứ trẻ vẫn vẹn nguyên ở ” một thời” hiện tại khi tuổi già. Đó là một niềm yêu được khẳng định gần như tuyệt đối và tăng mức độ cao hơn: NIỀM YÊU MÃI DÀNH CHO THI CA.
(DHD- 1/1/2018)

BÌNH LUẬN

Vui lòng gửi bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn