ĐIỆU TANGO MUỘN HAY KHÚC DÂN CA CỦA NGƯỜI XA XỨ

0
203

LỤC BÁT tản thần” (Bản thảo )

ĐIỆU TANGO MUỘN HAY KHÚC DÂN CA CỦA NGƯỜI XA XỨ

Nguyễn Thoại Vy

Tango là điệu nhảy phố biến có mặt trên khắp thế giới từ cuối thế kỷ 19. Đây là một thể điệu chậm, soạn theo nhịp 2/4 hoặc 4/4. Bạn đọc có quyền hỏi tôi: Thế có liên can gì đến tập Lục bát tản thần của thi nhân Nguyễn Hàn Chung? Xin thưa: Đây chỉ là liên tưởng mang tính cá nhân mà thôi. Có lẽ vì tôi thấy có mối dây liền lạc giữa điệu tango và thơ lục bát, giữa thể lục bát và ca dao – dân ca. Thứ nhất, lục bát là thể thơ truyền thống dễ viết nhưng khó hay. Nhịp chẵn. Âm nhạc và vũ điệu tango cổ điển cũng theo nhịp chẵn, không khó thực hành trên sàn nhảy. Tuy vậy, vũ công tango không chỉ khéo di chuyển nhờ thẩm âm – giữ nhịp tốt, mà hình thể cũng cần tinh tế, uyển chuyển khi phối hợp với bạn nhảy. Mặt khác, lục bát Nguyễn Hàn Chung phảng phất làn điệu dân ca Quảng Nam.

Thứ hai, là gốc gác bình dân. Lục bát và dân ca có nguồn gốc dân gian; điệu tango xuất phát từ những người nô lệ gốc Phi, lan tỏa đến những khu bình dân ở Buenos Aires (Argentina) trước khi trở nên phổ biến ở châu Âu.

Dài dòng như thế để bạn đọc thấy rằng sự liên hệ ấy của tôi không đến nỗi vô căn. Và điều hiển nhiên là trong Lục bát tản thần, ta bắt gặp cả nét hoang dã đồng nội lẫn sự mềm mại uyển chuyển của một thể thơ, của cách lập ngôn giàu nhạc điệu. Thử cùng thi nhân “chiết giải” soi sáng qua mấy câu dung dị chân quê:
Về đem lục bát ra phơi
Có em đang cắp nón cời đợi nhau
Anh từng chiết giải thâm sâu
Chiều quê vẫn sững sờ câu “Chiều chiều…”

Tôi không sững sờ như tác giả, mà đứng ngây ra giữa câu thơ, ở giang đoạn “Chiều quê” “Chiều chiều …”. Tôi để lòng mình ngẩn ngơ neo ở dấu chấm lửng cuối câu kết đoạn. Có thể bắt một nhịp cầu ở lưng câu thơ chăng ?!. Làm sao nối được tâm tình sâu nặng của thi nhân ở sau dấu ba chấm ấy ?!. Sao tôi có thể hiểu nỗi lòng của người bén rễ với quê nhà chỉ qua vài câu ca xứ Quảng: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”; “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/ Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nước chè” hay “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà …”! Bạn đọc cũng không thể ước đoán giản đơn là tại có em nón cời chờ đợi mà loanh quanh định nghĩa cái tình thâm sâu kia. Mặc những “thì, là, mà, nếu, …” vô vị, tôi cho rằng căn cớ là tại thi nhân đa cảm: Ở chiều quê mà nhớ chiều quê. Chiết giải thâm sâu mà Nguyễn Hàn Chung muốn giãi bày nghĩ cho cùng chính là thiền niệm. Thì đã sao. Bạn đã đọc câu Hai-ku xuất thần này chưa “Ở kinh đô/ mà nhớ kinh đô”. Chiều sâu tâm hồn của hai thi nhân (Basho và Nguyễn Hàn Chung) cùng rơi vào khoảng lặng giữa hai vế của một câu thơ (Chiều quê … “Chiều chiều”; Ở kinh đô … nhớ kinh đô) gợi dư ba khắc khoải.

Sự lặp lại từ ngữ trong thi tập không phải hiếm:
Gọi em một tiếng mấy lần
Phòng khi mai mốt ta cần có nhau”

Và hai câu kết của bài thơ (Gọi em một tiếng) là như vầy:
Gọi em một tiếng nữa rồi
Anh cầm đôi đũa vẽ vời tàn tro”

Như lệ thường, câu kết thiệt hay ! Đối diện với quá khứ, ta thường phân vân tiến thoái: hoặc nâng niu cất giữ hoặc dứt khoát đốt thành tro. Mỗi người thơ có sự chọn lựa khác nhau. Lê Quang Trọng tự thán “Có những điều đốt mãi chẳng thành tro”. Hàn Chung lại không nỡ đành đoạn nhưng biết dùng lý trí để dứt khoát, là gìn giữ cái tình đấy thôi nhưng không “khai quật” kỉ niệm. Ai đọc không tỏ sẽ ngỡ tiếng lòng thi nhân neo ở điệp ngữ “gọi em” ngân nga suốt bài thơ, kỳ thực là ở hai chữ “vẽ vời”. Răng (cỏ) chỉ “thèm cháo” cần chi dùng đũa. Hóa ra những mật ngọt cám dỗ khi “Ra đường có chả có nem” cũng thành vô duyên vô dụng. Nói “vẽ vời” xao lòng mà thật ra chuẩn mực, nghiêm túc. Thế nên “gọi em” là gọi tình gọi nghĩa, gọi kí ức về những năm tháng chia ngọt sẻ đắng cùng “em”. Lục bát Nguyễn Hàn Chung vẫn tiềm ẩn những bất ngờ như thế. Kể cả ở những phương ngữ, khẩu ngữ chân chất đất Quảng “chưa mưa đà thấm” kết hợp sáng tạo với thành ngữ dân gian cũng bất chợt phô dáng mộc mạc: êm ru, trổ trời, răng cỏ, trật rơ, mút (cà rem), dị (xấu hổ), chộ, quýnh quáng, coi mòi, bây chừ, quàng xiên, đi trớt, nhớ quắt quay, nước lã người dưng, mặt dạn mày dày, bắt cá hai tay, kén cá chọn cua …

Say thơ như điếu đổ nhưng cũng bất nhất âu sầu tự vấn, rồi nảy phiền sinh uất: “Thơ ca ích mẹ chi trời/ nó dày vò cả lúc người nhập quan. Ơ hay, đó là “cái giá của thi sĩ”! Chẳng phải Tố Như tiên sinh đã căn dặn đó thôi: “Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”. Thi nhân đáp trả ngay: Trách làm gì bởi “Cười khi khóc mới là thằng đàn ông”. Tự trào chả vui hơn à ?
Em đừng tin bọn đàn ông
Mười tên hết chín là không trung thành
Chỉ trừ có một mình anh
Em điên mới để gã thành của chung”

Ân cần mà xót xa biết mấy. “Của chung” này e là miễn cưỡng. Cái kiểu đau đáu tồi tội của Thúy Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân, đêm trước ngày phụ Kim Trọng theo Mã Giám Sinh để báo hiếu “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Với Kiều, kỷ vật là của chung nhưng duyên tình thì không. Với “em” – đối tượng trữ tình, nàng thơ của “gã” – thi nhân ân cần thuyết phục: đừng có dại mà biến gã thành của thiên hạ, nhớ giữ lấy vì “gã chung tình”, là người thủy chung trọn tình dẫu cơ hàn khốn khó (hàn chung mà lị!):
“Vậy mà ai có biết đâu
tôi chung thủy đến trời sầu đó em

Bạn đọc có thể xem như là thủ pháp chơi chữ, cũng có thể hiểu đơn sơ rằng đấy là lời thành khẩn chan chứa: trong biển người mênh mang, chỉ có tôi là trung thành tuyệt đối với em thôi. Vì rằng “Thơ tình phải rất nhu mì/ có phá cách cũng không đi trật đường”. Có phải vì chừng mực trong phá cách mà nhà thơ chọn thể lục bát để biểu đạt tư tưởng và tình cảm của mình ? Hay đó là tuyên ngôn thơ tình Nguyễn Hàn Chung ?! Tôi không nghĩ rằng trong Lục bát tản thần chỉ thuần thơ tình lứa đôi, mà có mặt cả những thứ tình cao xa khác: tình quê hương, đồng bào, tình bằng hữu …

Tôi gọi thi tập là khúc dân ca tình tự của người con xa xứ luôn hướng về quê mẹ. Và, tiếng lòng nhà thơ là điệu tango muộn. Cái xế muộn chiều quê đầy ám ảnh. Cái muộn mằn của mái tóc pha sương vẫn lưu lạc nơi đất khách. Cái muộn của chất nhạc chín nẫu đằm sâu trong từng câu chữ. Mà lạ chưa, sức sáng tạo thi ca thì vẫn trẻ trung, bền bỉ và tếu táo “Em chê gã ấy hơi già/ đi tìm thằng trẻ như ta đây này/ tóc ta trắng phớ làn mây/ tóc tên kia nhuộm phơi bày giả trang”. Một Nguyễn Hàn Chung bộc trực không thích bất cứ sự giả trang nào, kể cả trong thơ mình. Nhà thơ xứ Quảng đã qua tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” nên thơ ông như mẻ đường bát thắng tới ngọt lịm. Trong thi tập không hiếm những câu những bài chín cả về chất và lượng, tinh và thần; sự trải nghiệm về tri kiến lẫn văn hành đạt độ đằm sâu. Vì vậy, dẫu thăng trầm – sầu tư chất ngất thi nhân cũng đổ tại cô liêu, tại phận người truân chuyên rày đây mai đó “Mỗi khi lòng quá cô liêu/ ta ra quán rủ mĩ miều hàn huyên”. Dẫu có quặn lòng héo hon cũng đành “cười toe toét giấu nỗi buồn tái tê” hoặc bòn thơ mót chữ. Bởi chưng, thi ca là kinh kệ cứu rỗi tâm hồn thi sĩ mỗi khi trở lòng, nên “mót chữ trong kinh” cũng là phương cách chữa trị tâm bệnh u sầu. Nên chi tôi nghĩ rằng cái kẻ ác nhơn hành hạ tác giả chính là những nữ thần Muse trong thần thoại Hy Lạp:
Em hành tôi đến muôn sau
Nào hay tôi thắp nhang cầu xin em”

Nói cách khác nhà thơ chỉ điêu đứng vì những nàng “lục bát tản thần” dân dã mà huyễn mộng “Chuyên tâm lục bát tản thần/ không ham cày xới mấy tầng thanh cao” (Tự ngôn thơ).

Có khi lục bát Nguyễn Hàn Chung mang hơi thở của sự hồ hởi hy vọng, của tin yêu tươi trẻ: “Tôi tin là hắn yêu mình/ không yêu sao cứ hay rình đọc thơ/ tôi vừa mới post bây giờ/ chưa tan ngụm nước có thơ phản hồi”. Dĩ nhiên là đoán định chủ quan. Dĩ nhiên là tự huyễn hoặc mình!. Thế nhưng trong đôi chữ mấy dòng hiện sinh ấy vừa có nét chân tình dễ mến, vừa cám cảnh bãi bể nương dâu mà thở dài:
Huyễn chân giả
huyễn mộng thường
huyễn cơn huyễn hoặc
huyễn xương cốt tàn”
Tôi để nguyên cách ngắt dòng là lạ của hai câu lục bát trong “Huyễn 2”. Có lúc chỉ một câu lục mà tác giả xuống dòng ba lần, lại khi mỗi dòng chỉ một chữ: “Huyễn người/ không dễ/ huyễn mình/ huyễn tình nhân/ dễ/ huyễn tình nương/ đau”. Nhịp thơ hổn hển gấp gáp mà mộng mị đìu hiu. Thi ý vướng mắc trong hư huyễn đời người, nên dễ gì mà không đau. Điệp từ ngữ – cú pháp, cách ngắt câu xuống dòng bất thường lại là ưu điểm hay gặp trong tập thơ: “Kệ đi, đừng có ưu phiền/ Kệ đi, đừng có ưu phiền. Kệ đi”.
Kệ đi ! Miễn nhà thơ nỗ lực làm mới thi pháp, cách tân thể điệu lục bát để tránh sa vào lối mòn là đã hết lòng với nghiệp thơ, với bản sắc văn hóa Việt.

Mặt khác, nếu không làm chủ chữ nghĩa, người thơ sẽ dễ rơi vào góc “việt vị” của hình thái diễn xuôi tự nhiên, dẫu đằng sau câu chữ là triết lý cõi người “Học em tập bước qua hàng/ bao giờ cũng biết ngó sang bên đường (…)/ Cuối đời bước đến phòng thi/ trước tờ giấy trắng giống y tên đù”.

Cả thi tập hai trăm bài mà chỉ có đôi câu, dăm bài không hay đã là điều đáng mừng đáng phục. Dẫu chưa hoàn hảo thì tình quê vời vợi của thi nhân gieo vào từng luống chữ đã đủ lấp đầy bất cứ sự thiếu hụt nào. Lục bát tản thần là điệu tango muộn màng mà say đắm của tình tự quê nhà xa ngái:
Van em về lại với anh
Xẻ vầng trăng, xẻ chiếu manh, xẻ mình
Mặc người hắt hủi coi khinh
Anh hoài nâng níu chuyện tình Mị nương
Người ta đã lạc mù phương
Lũy tre chái bếp con mương vẫn chờ”
Đó là mấy câu thiết tha trong “Về thôi, lục bát” chở ngút ngàn tình quê qua hàng loạt thi ảnh đậm chất liệu dân gian (Mị nương, lũy tre, chái bếp, con mương) và hình dáng Truyện Kiều (Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường). Trên dặm trường nghiệp dĩ, nếu thi nhân có mỏi thì nhớ ngả đầu vào thơ nghỉ mệt chốc lát; hoặc mượn vầng trăng lấp lánh trong ca dao – Truyện Kiều mà soi tỏ tấc lòng quan hoài đăm đắm trông về quê mẹ.

P/s: Thi sĩ Nguyễn Hàn Chung

BÌNH LUẬN

Vui lòng gửi bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn